|
Lách Cách
caoxuan.com/kien Đau | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Đau Chích thuốc chủng ngừa con nít là một phần công việc của tôi và là việc tôi không thích làm chút nào. Một là vì đứa bé nó khóc la đinh tai nhức óc. Hai là vì tốn thời giờ rượt bắt nó, nhờ vả kêu gọi ba má nó giữ cho nó ngồi yên, lắm khi gặp phải cha mẹ cưng chiều con quá thì năn nỉ tét cổ họng cũng không làm ăn được gì hết. Mỗi thợ chích có một kỹ thuật riêng (gọi là xảo thuật cũng được) để chích mà đứa bé ít hoặc không thấy đau. Một cách phổ biến nhất là đánh lạc hướng đứa bé. Tôi thường nhờ bà mẹ ôm nó vào lòng và hát như ru cho nó ngủ trong khi tôi lén cho kim vào. Ở những đứa lớn hơn thì cho nó coi video trên phone. Người lớn thì tôi thường bảo họ hít mạnh vào hoặc tréo ngón chân khi tôi cho kim vào mạch để lấy máu. Trong lúc họ để tâm vào công tác ấy họ sẽ không cảm nhận được toàn bộ cái đau đang xảy ra trên tay họ. Từ những thí dụ này rõ ràng cảm giác nhận thấy cơn đau nó có thể bị chi phối bởi nhiều thứ. Khi một thanh niên dẫm phải đinh nhọn trên sàn nhà anh ta sẽ la làng nếu không có ai chung quanh. Nhưng nếu có vài cô gái đứng xớ rớ đâu gần đó thì anh ta sẽ chịu đựng cho cơn đau đó nó qua đi mà không la hét gì cả - mặc dù mồ hôi có thể toát ra đầy người. Sự đau đớn về thể chất lẫn tinh thần đều bị ảnh hưởng đáng kể bởi bối cảnh xã hội, hoặc giảm nhẹ hoặc làm trầm trọng thêm. Tình huống xã hội thường ức chế cơn đau thể chất thông qua các cơ chế hỗ trợ xã hội, phân tâm và chia sẻ nguồn lực nhận thức. Giảm nhẹ to yếu tố xã hội: Sự hiện diện của một "người thân thiết" (ví dụ: bạn đời) hoặc nhận được sự hỗ trợ bằng lời nói có thể làm giảm cường độ và sự khó chịu của cơn đau. Hiệu ứng này thường đi kèm với nhịp tim giảm và hoạt động giảm ở các vùng não liên quan đến cơn đau, chẳng hạn như vỏ não cingulate trước lưng (dACC) và vỏ não insula trước. Phân tâm và gánh nặng nhận thức: Tham gia vào tương tác xã hội có thể chuyển sự tập trung khỏi cơn đau, sử dụng các nguồn lực nhận thức mà lẽ ra sẽ tập trung vào cảm giác đó. Các Tình huống Xã hội Tiêu cực: Điều thú vị là nghiên cứu chỉ ra rằng ngay cả những tương tác xã hội tiêu cực hoặc căng thẳng nhẹ cũng có thể tạm thời làm giảm đau thể chất. Điều này có thể xảy ra vì sự căng thẳng về cảm xúc do tình huống xã hội gây ra làm "tê liệt" cảm giác đau thể chất ở cá nhân. Tiếp xúc vật lý: Nắm tay, đặc biệt là với người thân yêu, đã được chứng minh là làm giảm cả cảm nhận đau và các phản ứng thụ động, chẳng hạn như nhịp tim. Sự Phụ thuộc vào Bối cảnh: Tác động của các yếu tố xã hội phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh. Trong khi các mối quan hệ thân mật, hỗ trợ mang lại tác dụng giảm đau đáng kể, thì sự hiện diện đơn thuần của người lạ có thể không đủ để giảm đau. Sự Tương tác của "Đau xã hội": Sự loại trừ xã hội, hay "đau xã hội", có thể vừa khuếch đại vừa ức chế đau thể chất, tùy thuộc vào việc cá nhân có tập trung vào sự từ chối xã hội hay không. Sự chồng chéo thần kinh: Nghiên cứu cho thấy một con đường thần kinh chung cho đau thể chất và "đau xã hội". Sự chồng chéo này có nghĩa là sự hỗ trợ xã hội có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các vùng xử lý đau của não, tạo ra hiệu ứng "giảm đau". Tác động lâu dài: Mặc dù các tình huống xã hội có thể mang lại sự giảm đau tạm thời, cấp tính (ví dụ: trong tình huống căng thẳng cao độ, ngắn hạn), nhưng sự cô lập xã hội kéo dài hoặc môi trường xã hội tiêu cực mãn tính có liên quan đến sự nhạy cảm với đau cao hơn theo thời gian. Sự khác biệt cá nhân: Những người có mức độ nhạy cảm với sự từ chối cao hơn có thể phản ứng khác nhau với các tình huống xã hội, một số người cho thấy giảm đau sau khi bị cô lập xã hội. Sự tiêu cực của hỗ trợ quá mức: Mặc dù môi trường hỗ trợ có lợi, nhưng sự hỗ trợ "quan tâm" quá mức (ví dụ: cha mẹ anh chị quá nuông chiều) đôi khi có thể dẫn đến khả năng thích nghi với cơn đau kém hơn về lâu về dài, có khả năng khuyến khích sự phụ thuộc vào người khác. Theo sinh lý học thì cơn đau là do cơ quan cảm xúc khó chịu trong thân thể tiết ra các hóa chất gây đau. Các hóa chất này kích động tín hiệu từng đợt theo thần kinh dẫn về thần kinh cột sống. Tín hiệu được truyền tiếp theo lên trung tâm não vào cơ quan tiếp nhận. Cho tới lúc khi này thì cái biết "đau" mới xảy ra. Trong ví dụ chàng thanh niên đạp đinh trên đây thì ngay chỗ bàn chân mà cái đinh nó cắm sẽ không biết đau. Chàng ta biết đau chỉ khi nào tín hiệu đau nó lan từng đợt lên đến não. Khi đó não bộ mới thông tin cho chàng ta rằng "Ê! Có tin nóng đây! Chân phải mày đạp đinh kìa. Đau lắm! Cố sức mà la lên đi!" Cái trớ trêu là não bộ có thể nhận tín hiệu đau nhưng tự nó không có cơ quan cảm xúc đau. Đây là lý do vì sao ung bướu mọc sâu trong não không tạo sự đau đầu cho đến khi đã phát triển quá lớn và chèn ép vào những mô chung quanh như màng não là nơi có cơ quan cảm xúc đau. Để cái tín hiệu "đau" từ bàn chân lan truyền lên đến não cũng phải cỡ vài trăm nghìn tín hiệu liên tục, cái sau tiếp đuôi cái trước tới tấp như vậy. Theo tôi tưởng tượng thì mỗi tín hiệu tương đương với một lộ thân môn cảnh bất toại rất lớn, y chang như A Tỳ Đàm giải thích. Trong sự kiện đạp đinh mọi thứ phải sanh lên, trụ một chút, rồi mất đi - theo tuần tự. Trước hết là mấy tâm hộ kiếp phải ngừng lại vì tụi nó biết đạp đinh là lớn chuyện - thuộc loại lộ ngũ cảnh rất lớn. Khi tâm hộ kiếp nhường chỗ thì tâm khai ngũ môn nó sanh khởi, mở cửa cho tâm thân thức thọ khổ nó bắt cái đau. Nó chỉ bắt thôi nó chưa có phản ứng. Cái tín hiệu "bất thiện" đó cần phải đi qua ba tâm nữa: tiếp thâu, quan sát, phân dạng. Ba tâm này xác thực "Đau", "Đau ở bàn chân" và "Đau vì bị đâm!". Tiếp theo sau là các tâm đổng lực - thường là sân vì đau quá phải nổi giận. Rồi sau đó có vài loạt tâm hộ kiếp. Sau đó mới tới những lộ ý: "Tiên sư bố nó! Thằng nào? Thằng nào để cây gỗ có đinh lòi ra nằm giữa nhà cho ông đạp phải thế này? Ông đã làm gì mày mà mày nỡ mưu toan ám hại ông? Trời ơi! Sau tôi đau quá vầy nè?" (Dĩ nhiên nếu có một em coi được được đứng gần đó dòm thấy thì chàng đạp đinh này chỉ cười méo miệng rồi bặm môi bình tĩnh rút đinh ra với dáng vóc của võ sĩ thượng thừa). Những lộ ngũ đi đầu là mũi tên thứ nhất. Lộ ý theo sau là mũi tên thứ hai. (Sallatha Sutta - Bài Kinh Mũi Tên) Ghi chú: Trong hình kèm đây thì phần thứ 4 là khả năng não bộ tiết ra những hóa chất có nhiệm vụ kềm hãm tín hiệu đau đớn. Tùy người và hoàn cảnh bên trong thân và bên ngoài mà khả năng có nhiều hay ít. ![]()
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||