|
Lách Cách
caoxuan.com/kien Miếng | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Miếng Trong thực hành Tứ Niệm Xứ có phần suy niệm về "ăn, uống, nhai, nếm" (thuộc tiểu oai nghi) và "nước miếng" (thuộc 32 thể trược). "Tỉnh thức biết rõ khi đang ăn, uống, nhai, nếm." "Trong thân này gồm có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột non, ruột già, dạ dày, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc, nước mắt, mỡ lõng, nước miếng, nước mũi, chất nhờn, nước tiểu." Hai món này có liên hệ rất chặt chẽ với nhau. Mình cứ tưởng khi ăn thì cứ bỏ đồ ăn vô miệng nhai cho mềm ra rồi nuốt thôi. Nước miếng thì mình nghĩ chắc chỉ có mỗi một nhiệm vụ là tạo sự nhờn nhớt cho thức ăn nó dễ nuốt, dễ trôi xuống họng. Nhưng thật ra nước miếng thay đổi rất nhanh - từ dung lượng cho đến các thành tố trong đó, tùy theo thức ăn dồ uống mà mình nhìn thấy, ngửi thấy trước khi nó chạm vào các cơ quan nếm trên lưỡi. Vì vậy khi ta ăn nhanh quá không cho nước miếng có đủ thời gian phản ứng tiết ra đủ chất tiêu hóa thích hợp thì sẽ có thể gây xáo trộn cho hệ thống đường ruột. Một thói quen rất hại sức khỏe là vừa ăn vừa xem phim ảnh tin tức trên TV hay trên phone. Mắt thì nhìn thấy cái bánh ngọt quảng cáo trên TV, miệng thì lại bỏ vào một lọn nem chua. Tội nghiệp cái tuyến nước miếng trước tình hình đó nó chỉ có nước chảy nước... mắt! Nó không biết nên tiết bao nhiêu và gồm những chất gì cho hợp tình hợp lý. — Ông chủ ơi, ông ăn ngọt hay ăn chua cay thì ông làm ơn làm phước bảo cho con biết với. Đằng này con mắt nó nhắn tin "ngọt lịm" còn thằng lưỡi nó lại la "chua le". Con không biết ứng xử thế nào cho phải đạo đây! Vì vậy mà mình phải có chánh niệm. Ăn cái gì, uống cái gì. Trước khi nhét nó vô cái lỗ dưới cái mũi của mình, mình phải nhìn cho rõ cái cục thực phẩm đang bị kẹp giữa hai đầu đũa. Tứ đại của nó ra sao: mềm hay cứng, nóng hay lạnh, dẻo hay giòn... Tưởng - so sánh nó với món này mình nhớ mẹ mình từng nầu hồi xưa. Nó làm mình chảy nước miếng như thế nào. Lúc này là cái tuyến nước miếng nó dự đoán trước cái vị nếm. Nó tiết ra nhiều ít và gồm những hoáng tố hay chất đạm nào là lúc này. Xúc là khi cái lưỡi nó nếm được cái cảnh vị đó. Rồi ngay theo sau đó là Thọ. Miếng ăn trước nó có khác miếng ăn này hay không? Miếng trước có rau nhiều, miếng này lại dính miếng ớt. Coi chừng! Hình như có tí xương cá lẫn bên trong! Ngon hay dở? Cay quá thì thọ Khổ. Không đủ cay thì càu nhàu người nấu - thọ Ưu. Ngon ngọt đã quá là thọ Lạc. Nhưng lạt thì lại thấy mất sướng - thọ Ưu nữa. Mà thật là như vậy. Khi ăn chậm rãi một mình không có TV radio hay bạn bè chung quanh chi phối đầu não thì hình như mình ít bị "sôi ruột". Còn sau những buổi tiệc linh đình, chay mặn, chua ngọt, nóng trước lạnh sau, cá thịt lộn xộn, bàn tán cười đùa xào xáo, khi mình về tới nhà thì thường là thấy cái bụng nó không được ổn. Người mìền Nam gọi là nước miếng. Có lẽ là vì nó là chất nước do miệng tiết ra với từng miếng ăn. Người miền Bắc thì gọi là nước bọt vì nó luôn có bong bóng. Sau đây là AI Google thâu thập thông tin về nước miếng. Thành phần nước bọt thay đổi linh hoạt dựa trên loại thực phẩm được tiêu thụ, thích ứng để hỗ trợ tiêu hóa, bảo vệ mô miệng và tăng cường cảm nhận vị giác. Các biến đổi chính được thúc đẩy bởi nhu cầu phân giải các chất dinh dưỡng cụ thể như tinh bột hoặc chất béo, hoặc để giảm bớt vị chát từ polyphenol. Dưới đây là sự phân tích thành phần nước bọt theo loại thực phẩm: 1. Thực phẩm giàu carbohydrate (Tinh bột, Bánh mì, Đồ ngọt) Hoạt động của amylase: Chế độ ăn nhiều carbohydrate phức tạp (ví dụ: tinh bột) có liên quan đến hoạt động amylase trong nước bọt cao hơn để bắt đầu quá trình tiêu hóa tinh bột. Phản ứng nhanh: Tiếp xúc với bánh mì kích thích sự gia tăng amylase tiêu hóa tinh bột và cystatin (protein liên quan đến cảm nhận vị giác). Đường đơn: Lượng carbohydrate đơn cao làm tăng tổng khả năng chống oxy hóa trong nước bọt và có liên quan đến sự gia tăng amylase. 2. Thực phẩm nhiều chất béo (Phô mai, các loại hạt, dầu ăn) Lipase & Amylase: Chế độ ăn nhiều chất béo có liên quan đến việc tăng hoạt động của lipase (enzyme phân giải chất béo) và amylase trong nước bọt. Protein & Nhũ tương: Thực phẩm nhiều chất béo, nhiều protein (như phô mai/sữa chua) có liên quan đến nồng độ cystatin và amylase cao hơn, giúp tạo ra nhũ tương ổn định, ảnh hưởng đến cảm nhận chất béo trong miệng. Lưu lượng nước bọt: Sở thích ăn thực phẩm nhiều chất béo có liên quan tích cực đến tốc độ tiết nước bọt tổng thể cao hơn. 3. Thực phẩm giòn/nhiều chất xơ (Táo, rau sống, cần tây) Tăng tốc độ tiết nước bọt: Rau và trái cây giòn kích thích sản xuất nhiều nước bọt, giúp làm ẩm, làm mềm và tạo thành khối thức ăn để nuốt. Thay đổi protein: Thực phẩm giòn như táo dẫn đến sự gia tăng cao tốc độ tiết nước bọt và hoạt động của amylase. 4. Thực phẩm chát/đắng (Rượu vang, Cà phê, Trà, Sô cô la, Rau sống) Cystatin và Protein giàu Proline (PRP): Thực phẩm chát và giàu polyphenol (ví dụ: rượu vang, ca cao) tương tác với protein trong nước bọt. Cụ thể, cystatin và PRP trong nước bọt có liên quan đến việc tiêu thụ các hợp chất đắng/chát này. Cơ chế bảo vệ: Tiêu thụ nhiều rau sống (chứa glucosinolate đắng) có liên quan đến những thay đổi trong nước bọt có thể giúp xử lý hoặc giảm cảm nhận về các hợp chất đắng. 5. Sản phẩm từ sữa/chất men Protein đặc hiệu: Chế độ ăn nhiều sản phẩm từ sữa lên men và rượu vang có liên quan tích cực đến việc gia tăng các dải protein chứa amylase và cystatin loại S. Tuyến nước bọt: Việc tiêu thụ sữa chua kích hoạt sự gia tăng nhanh chóng amylase và giảm tổng lượng protein ngay sau khi ăn. 6. Axit và vị mặn (Chua/Umami) Tăng tiết nước bọt tối đa: Vị chua (ví dụ: axit citric) là chất kích thích mạnh nhất đối với dòng chảy nước bọt. Vị mặn/Umami: Thực phẩm giàu bột ngọt hoặc muối cũng kích thích dòng chảy nước bọt cao và làm tăng nồng độ protein trong nước bọt. ![]()
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||