Lách Cách
caoxuan.com/kien

Số

Số

Hồi ở trại tỵ nạn Kota Bharu Mã Lai tôi có tập nói tiếng Anh với một cô ý tá thiện nguyện người Mỹ tên Barbara. Không hiểu qua lại hiểu lầm ngôn ngữ nhau như thế nào đó mà nó dẫn tới chuyện số mạng con người. Chữ nghĩa tiếng Anh của tôi lúc ấy bồi nhiều hơn nhà hàng cơm tàu. Tôi đâu biết "số mạng" phải dịch là "fate" cho nên tôi mới chơi liều:

- Everything is ... life number. (Mọi chuyện là "mạng" + "số")
- Like "one, two, three" ? (Nghĩa là một, hai, ba?)
- No. Just a number. (Hỏng phải. Chỉ là con số.)
- Like "when your number's up"? (Giống như "khi số của mày tới")
- What is that “up” number? (Số đó là cái gì vậy?)
- What number? (Số nào?)
- What? (Hả?)
- What what? (Hả cái gi?)
- What? (Hả?)
- OK. I go sleep. (Thôi tao đi ngủ)
- OK. I go sleep. (Thôi tao đi ngủ)

Giờ nghĩ lại có lẽ cô Barbara lúc đó cũng mường tượng ra gần được tôi muốn nói cái gì. "When your number's up" là một cụm từ tiếng Anh có từ thế kỷ 19 để diễn tả hoàn cảnh một người sắp phải gặp chuyện xấu hoặc tử vong. Thì bên Việt mình gọi là "tới số".

Từ "số" trong "tới số" có lẽ đúng là "number" - giống như trường hợp "trúng số" là cái con số được đặt cho riêng mình và được bốc thăm trúng. Nhưng "số" trong "số mạng" hay "số tử vi" thì chắc là không. Tiếng Trung Hoa cũng dùng cùng chữ "số" này trong nhiều trường hợp với ý nghĩa khác nhau. Nhân Số 人數 là số người (population) là một con số (đếm được); trong khi Thiên số 天數 là số trời, là vận mạng (fate), thì lại không phải là một con số. Người thì đếm được. Trời đếm sao nổi? Ngộ há?

Trong Phật giáo con số để đếm được dùng rất nhiều. Cứ dòm bộ Kinh Tăng Chi thì thấy. "Này các tỳ kheo, thế nào là ba?", "Này các tỳ kheo, thế nào là sáu?"

Đạo Phật có rất nhiều danh sách liệt kê đánh số đủ thứ. Duyên thì có 24 Duyên Hệ, 12 Duyên Khởi. Thiện thì có 10 Thiện Nghiệp, 37 phẩm bồ đề, 4 Niệm Xứ, 7 Giác Chi , 8 Chánh Đạo, 4 Chánh Cần, 4 Như Ý Túc, 5 Quyền, 5 Lực. Ác thì có 4 Lậu, 4 Thủ, 5 Triền, 10 Phiền não, 10 Bất Thiện Nghiệp... và còn nhiều nhiều nữa.

Bởi vậy mà người Tây thường ghẹo: "Christians have saints, Buddhists have lists" là vậy. (Công giáo có nhiều Thánh. Phật giáo có nhiều danh sách)

Học A Tỳ Đàm đôi khi phải biết ý nghĩa của một con số khi nó được nêu lên. Ví dụ: 1 hay 121 hay 89 là tâm. 13 là tâm sở trung tính. 14 là tâm sở bất thiện. 25 là tâm sở thiện. v.v...

[ Lưu ý: Muốn theo học với Sư Giác Nguyên mà khi nghe 1+13+14 mà ngơ ngơ ngáo ngáo là coi như chìm xuồng luôn đó nghen. Tôi xin cảnh cáo trước. ]

Còn "số mạng" trong Phật giáo thì chính là nhân quả nghiệp báo - kamma (Pali) hay karma (Sanskrit).

Do anh làm cái nhân ở một kiếp quá khứ nào đó mà cái quả của cái nhân đó nó trổ đúng ngay lúc này.

Tại sao tôi không được sanh làm người Âu Mỹ thân thể cao lớn sống trong đất nước hòa bình mà lại sanh ra thấp lùn ở một xứ có tai biến phải cực khổ trốn chạy?

Tại sao ghe vượt biển của nhóm chúng tôi tàn tệ vậy mà trôi được tới bãi biển Mã Lai trong khi mấy chục nghìn chiếc ghe khác ngon lành hơn nhiều lại bị chìm, đem theo biết bao đồng bào của tôi vùi vào đáy biển?

Phải chi tôi biết được từ "kamma" này để nói ra chiều hôm nào ở trại tỵ nạn Kota Bharu thì chắc cô Barbara sẽ không đi ngủ sớm như vậy.


  • Bánh
  • Nghe
  • Bree
  • Chĩa
  • Chó
  • Chim
  • Tín
  • Đau
  • Hận
  • ĐM
  • Đói
  • Giá
  • Gian
  • Giữa
  • Goss
  • Ho
  • Hôi
  • Jane
  • John
  • Nhẫn
  • Khích
  • Ma
  • Mặt
  • Miếng
  • Nhớ
  • Ngã
  • Ngáp
  • Nghiện
  • Nhà
  • Nhân
  • Đoạn
  • Quán
  • Sân
  • Schadenfreude
  • Số
  • Tên
  • Thua
  • Thúi
  • Thuốc
  • Tủ
  • Uẩn
  • Chay
  • Sáng
  • Xổ
  • Xui
  • Lách Cách
    caoxuan.com/kien