Lách Cách
caoxuan.com/kien

Hòa

Hòa
Viết về chữ Hiếu tôi cũng nghĩ tới những người tôi phải biết ơn. Cha mẹ sanh tôi ra, nuôi nấng, bảo bọc. Thầy cô dạy tôi học nên danh nên người. Bạn bè hỗ trợ tinh thần những khi tôi xuống dốc. Và những người làm việc tại các cơ quan từ thiện giúp đỡ chúng tôi là dân tỵ nạn chân ướt chân ráo đến xứ lạ quê người. Nhiều nhiều người khác nữa tôi phải nhớ ơn.

Và một người tên Hòa.

Năm 1980 tôi cùng hơn 30 người giữa đêm khuya trèo lên một chiếc ghe gỗ dài khoảng 12 mét. Tài công nổ máy lái ghe ra giữa sông rồi nhắm cửa biển mà tiến. Tiếng máy ghe nổ bành bạch bành bạch cộng với mùi khét của khói xăng tạo nên một không khí đen tối khá rùng rợn khó quên trong cái đầu 16 tuổi của tôi. Tất cả đều ngồi núp sát vào nhau, im lặng, hồi hộp, căng thẳng gần như ngộp thở. Tôi nghe những người đi cùng thì thầm với nhau rằng chiếc ghe này đúng ra là ghe đi sông; không đủ sức ra biển. Thế mà người chủ mưu vượt biên hứa hão với cha mẹ tôi là tàu lớn. Nhưng lâm vào thế kẹt rồi thì phải leo lên thôi. May mắn là cũng chính vì vậy mà công an hàng hải không nghi ngờ và chiếc ghe bé tí đó thoát được ra hải phận quốc tế.

Rạng sáng thì chúng tôi gặp một tàu đánh cá Thái Lan. Họ chỉ là dân đánh cá, nhưng vì ở hải phận quốc tế không có luật lệ cảnh sát công an gì cả nên đương nhiên họ được tự cho phép làm cướp biển. Sau khi hành hung đánh đập cướp bóc hết tài sản của những người trên ghe thì bọn cướp này đưa cần cẩu sang bứng luôn cái máy ghe (tôi còn nhớ là máy F2 hai blốc hay gì đó) và cắt dây chằn để mặc cho chúng tôi trôi lênh đênh trên Thái Bình Dương.

Cũng may là biển lúc đó lặng như mặt hồ, không một gợn sóng. Chứ chỉ cần sóng lớn một chút thì chiếc ghe thê thảm này lật úp từ lâu rồi. Những người trên ghe bàn tán một lúc rồi hè nhau dùng tay phá vỡ tường gỗ chung quanh cái chòi lái, lấy mấy thanh gỗ ra làm mái chèo. Chúng tôi chia ra ngồi hai bên vè ghe, thay phiên nhau mà chèo. Dĩ nhiên là đi chậm hơn lúc còn máy nhưng ít ra cũng có tí "tốc độ hải lý".

Sang ngày hôm sau thì tôi bị đau bụng muốn đi cầu. Nghĩ cũng lạ, hai ngày không ăn gì, chỉ nhấp nước lã mà sao lại có đồ để tống ra. Tôi mò ra sau đuôi ghe, tuột quần đùi và cầm một sợi dây đã cột sẵn vào thành ghe. Tôi ghì hai chân, chõng mông ra ngoài ghe và ra lệnh cho hậu môn... xử lý kiện hàng cần xuất khẩu. Đang phê thì bỗng đâu sợi dây kia đứt ngang và thế là tôi lọt ùm xuống biển sâu.

Tôi nhớ rất rõ trong lúc hoảng hồn đó tôi nhìn lên thấy toàn bộ cái đáy ghe. Nước biển tràn vào mũi tôi, cay mặn, ngột ngạt vô cùng. Tôi lại không biết bơi. Không hiểu tôi ngoe nguẩy tay chân cách sao đó mà tôi vùng lên tới mặt nước.

— Cứu! Tôi chỉ có thể la lên một tiếng rồi lại chìm xuống. Tôi thoáng thấy nhiều người trên ghe nhìn xuống, ai cũng chần chừ hoặc là tỏ vẻ bị làm phiền. Cũng có thể họ đều mệt mỏi và thật sự không có khả năng hay kinh nghiệm cứu giúp gì trong trường hợp của tôi hôm đó.

Một người trên ghe cầm một cái can nhựa nhảy xuống rồi bơi về phía tôi. Vì ghe không có máy nên tôi không bị bỏ rơi quá xa. Khi thấy người thanh niên kia bới tới gần tôi mừng quá đưa hai tay níu anh ta. Không nói một tiếng anh ấy thoi tôi một cú giữa mặt. Tôi thấy ba ông sao, xiểng liểng, choáng váng, không biết trời đất trên dưới gì cả. Sau đó tôi thấy cổ mình bị kềm chặt và người thì bị lôi đi. Khi đến tới thành ghe thì có vài người đến giúp kéo tôi lên. Người thanh niên kia không nói một lời, trở về vị trí cũ và tiếp tục chèo ghe. Tôi thì ngồi đó cho những người khác chửi bới là làm chậm cuộc hành trình. Thật sự thì hành trình gì? Ghe đi sông ra biển lớn, không máy, không la bàn, không biết còn bao nhiêu hải tặc...

Sau tám ngày, bảy cuộc tấn công của hải tặc, đã vậy còn bị hải quân Thái lôi ngược ra biển, chết dở sống dở thì chiếc ghe định mệnh kia dạt vào bờ biển của Mã Lai. Khi hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ nghe dân làng loan báo đến điều tra và trợ giúp chúng tôi họ phát bánh kẹo và các bịch trà. Mãi tới lúc này, lúc biết chắc mình sẽ không chết đuối trên biển, tôi mới tìm đến chào người thanh niên đã cứu tôi để cảm ơn.

— Hòa!

Anh vừa ngồm ngoàm ăn bánh vừa trả lời khi tôi cảm ơn và hỏi tên. Rồi Hòa lấy tay xé bịch trà để cho vào nước nóng trong ly giấy. Bột trà văng tung tóe. Những người chung quanh chê cười anh không biết xài bịch trà. Có lẽ vì anh ta là dân quê, chưa bao giờ dùng trà kiểu thành phố như vậy. Tôi bèn lấy phần trà của tôi, nhúng vào ly rồi đưa cho Hòa. Món quà cảm ơn của tôi thô thiển rẻ mạt quá, nhưng tôi không còn cái gì khác.

Và ngay sau đó chúng tôi chia tay. Tôi về trại tỵ nạn Kotabaru. Hòa ra Bidong.

Từ lúc đó tôi không có cách nào liên lạc được với Hòa, vị anh hùng cứu mạng của tôi. Bây giờ có lẽ anh cũng phải trên 70. Không hiểu anh sinh sống ở đâu, sức khỏe gia đình ra sao. Thôi thì tôi nhớ đến Hòa mỗi khi tôi tạo được công đức gì đó và nguyện cho anh vui khỏe, an lạc. Một lần nữa cảm ơn Hòa đã ra tay cứu tôi, một người dưng anh hoàn toàn chưa hề quen biết.

========

Thế nào là anh hùng? (Google AI)

Thái độ anh hùng thường là phản ứng tức thời, theo bản năng trước mối nguy hiểm bất ngờ thay vì là kết quả của sự tính toán thiệt hại, có chủ đích.
Những người liều mạng cứu người khác thường cho biết họ hành động theo bản năng, được thúc đẩy bởi lòng trắc ẩn nhanh chóng trước khi nỗi sợ hãi hay nghi ngờ có thể ngăn cản họ.
Bản chất của hành động anh hùng là tự phát.
Những người cứu hộ trong các cuộc khủng hoảng cấp bách thường hành động trước và suy nghĩ sau.
Phản ứng cảm xúc mạnh mẽ trước nỗi đau khổ của người khác lấn át bản năng tự vệ.
Phản xạ nhanh chóng trong một cuộc khủng hoảng được xây dựng trên lòng trắc ẩn hàng ngày trong đời sống và sự sẵn sàng giúp đỡ nói chung.
Tại sao các hành động tự phát xảy ra?
Kích hoạt nhận thức: Não bộ ghi nhận một yêu cầu đạo đức rõ ràng, khẩn cấp trực tiếp từ môi trường.
Xu hướng bẩm sinh: Giúp đỡ người khác trong trường hợp khẩn cấp là một bản năng tự nhiên của con người, bác bỏ quan niệm sai lầm về sự thờ ơ hoàn toàn của người ngoài cuộc.

Dveme, bhikkhave, puggalā dullabhā lokasmiṁ. Katame dve? Yo ca pubbakārī, yo ca kataññū katavedī. Ime kho, bhikkhave, dve puggalā dullabhā lokasmin ti.

Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thi ân trước và người biết nhớ ơn đã nhận. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.

Monks, these two people are hard to find in the world. Which two? The one who is first to do a kindness, and the one who is grateful for a kindness done and feels obligated to repay it. These two people are hard to find in the world.

Aṅguttara Nikāya 2 - 11. Āsāduppajahavagga 119



  • Bánh
  • Nghe
  • Bree
  • Chĩa
  • Chó
  • Chim
  • Tín
  • Đau
  • Hận
  • ĐM
  • Đói
  • Đơn
  • Gãi
  • Giá
  • Gian
  • Giữa
  • Goss
  • Heo
  • Ho
  • Hòa
  • Hôi
  • Jane
  • John
  • Hiếu
  • Nhẫn
  • Khích
  • Kiêng
  • Giấy
  • Lắp
  • Trưa
  • Ma
  • Mặt
  • Miếng
  • Nhớ
  • Nepal
  • Nếu
  • Ngã
  • Ngáp
  • Nghiện
  • Nhà
  • Nhân
  • Đoạn
  • Quán
  • Rachel
  • Rụng
  • Sân
  • Nhạo
  • Số
  • Tên
  • Thua
  • Thúi
  • Thuốc
  • Tủ
  • Uẩn
  • Chay
  • Sáng
  • Xổ
  • Xui
  • Lách Cách
    caoxuan.com/kien